HT
Sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế của thế kỷ qua đã đem lại cuộc sống phồn vinh cho nhiều người, nhưng không phải cho tất cả mọi người. Sự phân cực về kinh tế ngày càng sâu sắc, khoảng cách giàu nghèo ngày một gia tăng.
Tuy nhiên, kinh tế càng phát triển thì nhu cầu tinh thần, trong đó có nhu cầu tâm linh càng cao, xu hướng gia tăng nhu cầu tâm linh, tôn giáo “phú quý sinh lễ nghĩa”. Chính là do có sự gia tăng đột biến về tôn giáo, tốc độ tăng số tín đồ tôn giáo cũng gắn liền với tốc độ tăng dân số, sự phát triển tôn giáo không chỉ ở số lượng tín đồ mà còn ở sự gia tăng của hàng ngũ chức sắc, nơi thờ tự, phát triển hội đoàn, in ấn kinh sách… khuyếch trương vai trò và tăng cường ảnh hưởng cùng với những hoạt động mang tính nhân đạo, văn hoá, chính trị và thương mại hóa tôn giáo trong xu hướng đa dạng hóa, thế tục hóa tôn giáo đã làm xuất hiện“thị trường tôn giáo” .
Lý thuyết thị trường tôn giáo dựa vào lý thuyết lựa chọn duy lý (hay hợp lý), lý thuyết vị lợi xuất phát từ kinh tế học do Adam Smith (1732 - 1776) khởi xuớng. Lý thuyết thị trường tôn giáo xuất hiện tại Mỹ vào cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ 20 do hai học giả người Mỹ, Rodney Stark và William Sims Baibridgekhởi xướng qua tác phẩm: A theory of religion, Peter Lang, New York, 1987, mới kết tụ thành mô thức giải thích mới chính là lý luận về thị trường tôn giáo. Vào thời điểm lý thuyết thế tục hóa lâm vào tình trạng khủng hoảng, bế tắc chưa tìm ra được lý thuyết thay thế. Những dự đoán về sự suy giảm tôn giáo trong xã hội hiện đại và xu hướng thế tục hóa đã không diễn ra, ngược lại, tôn giáo có chiều hướng phục hồi, phát triển mạnh mẽ, nhất là ở Mỹ với sự ra đời của phong trào tôn giáo mới.
Trong bối cảnh đó, sự xuất hiện lý thuyết thị trường tôn giáo hay lý thuyết lựa chọn duy lý trong nghiên cứu tôn giáo đem lại một cách tiếp cận mới cho nghiên cứu và lý giải thực tiễn đời sống tôn giáo trong xã hội hiện đại
Lý thuyết thị trường cho rằng: “con người luôn có lý trí khi lựa chọn niềm tin tôn giáo, những người theo tôn giáo luôn tìm cách để nhận được phần thưởng từ tôn giáo với chi phí thấp”
Nền tảng cơ bản của lý thuyết thị trường tôn giáo là giả định rằng nhu cầu tôn giáo không thay đổi, mà thị hiếu tôn giáo mới thay đổi, “nguồn cung” cẩp sản phẩm tôn giáo mới giữ vai trò làm cho tôn giáo phát triển hay suy tàn. Nói cách khác, họ quan tâm làm rõ điều kiện tự do tôn giáo và sự cạnh tranh cùa các tổ chức tôn giáo, những cái tích cực tạo ra “nguồn cung” là yếu tố cơ bản tác động đến đời sống tôn giáo. Trong khi thuyết thế tục hóa truyền thống giải thích sự tồn tại của tôn giáo từ nguồncầu, tức là từ nhu cầu của tín đồ, thì những người chút xướng lý thuyết thị trường tôn giáo lại xuất phát từ nguồn cung, tức là từ phía các chức sắc, tổ chức tôn giáo - những người cung cấp sản phẩm tôn giáo. Theo họ, nhu cầu tôn giáo không thay đổi qua lịch sử hay các nền văn hóa và các quốc gia khác nhau. Vì vậy, sự thịnh suy của tôn giáo chủ yếu là do yếu tố cầu, cơ bản là người cung ứng tôn giáo và những quy định của nhà nước về nguồn cung này. Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy tôn giáo phát triển đa dạng và chính sách của chính phủ nuôi dưỡng sự cạnh tranh đó cũng làm lợi cho “người tiêu dùng tôn giáo”.
Quan điểm này hoàn toàn ngược lại với quan điểm phổ biến trước đây là đa dạng tôn giáo làm xói mòn niềm tin tôn giáo và làm suy giảm tôn giáo trong xã hội.
Lý thuyết thế tục hóa truyền thống cho rằng: đa dạng hóa và hiện đại hóa sẽ làm cho tôn giáo dần dần mất đi, ngược lại, lý thuyết thị trường tôn giáo lại cho rằng, đa dạng hóa và tự do cạnh tranh sẽ làm cho tôn giáo càng phát triển. Điều này thể hiện rất rõ đối với tôn giáo ở Mỹ, nơi có sự đa dạng tôn giáo và tự do cạnh tranh nhất thế giới, cũng là nơi tôn giáo phát triển nhất trên thế giới. Trong khi ở các nước Tây Âu, nơi còn duy trì chế độ tôn giáo nhà nước, thì tôn giáo lại suy giảm trong đời sống xã hội.
Nhìn chung, lý thuyết thị trường tôn giáo đã đưa ra một cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu mới, có những điểm hợp lý để giải thích cho sự phục hồi và phát triển của tôn giáo trong thế giới hiện đại được nhiều người, nhất là giới nghiên cứu tôn giáo Mỹ ủng hộ.
Thị trường tôn giáo theo Mô thức mới cho rằng, về những thành tố chủ yếu, hệ thống tôn giáo và hệ thống kinh tế có một số đặc điểm rất giống nhau.
Cơ cấu của thị trường tôn giáo gồm có:
A. Người tiêu thụ sản phẩm tôn giáo - tín đồ nói chung: cư sĩ Phật giáo, giáo dân Ki tô, v.v…
B. Người cung cấp sản phẩm tôn giáo: Hòa thượng, mục sư, linh mục, tư tế, v.v…
C. Sản phẩm tôn giáo - các hình thức hoạt động.
Quan điểm hạt nhân của Rodney Stark là: Căn nguyên chủ yếu quyết định sự biến đổi của tôn giáo đương đại là ở người cung cấp sản phẩm tôn giáo. Lý luận cơ bản của ông là:
Thứ nhất, nếu tôn giáo hoàn toàn chịu sự chi phối của thị trường, không có sự quản chế từ bên ngoài, tất sẽ dẫn đến sự đa nguyên và cạnh tranh của tôn giáo.
Thứ hai, trên tiền đề là tôn giáo tự do cạnh tranh, để giành giật được tín đồ, giáo hội tất phải cung cấp những sản phẩm tôn giáo phù hợp với yêu cầu xã hội, cuối cùng hình thành thị trường tôn giáo.
Thứ ba, cạnh tranh tất sẽ tạo nên sự phát triển hay mất đi của một tôn giáo cụ thể nào đó, nhưng về tổng thể sẽ nâng cao mức tiêu thụ tôn giáo của xã hội, thúc đẩy sự phồn vinh của tôn giáo.
Thứ tư, ngược lại, nếu thị trường tôn giáo do nhà nước lũng loạn, tất sẽ sản sinh ra hiện tượng tôn giáo biếng nhác cung ứng sản phẩm tôn giáo không có hiệu quả, dẫn đến sự suy yếu của tôn giáo ấy[1].
Ngày nay, một số tôn giáo đang có xu hướng thương mại hoá với việc dựa vào sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo để đạt mục đích kinh tế làm cho tôn giáo xa rời với tính thiêng liêng và mục tiêu hướng thiện vốn có của nó.
Đa dạng hóa tôn giáo góp phần làm phong phú thêm “thị trường tôn giáo”, làm sôi động thêm “thị trường tâm linh”; điều đó cho thấy nhu cầu tâm linh của con người ngày càng được đáp ứng tốt hơn, phù hợp hơn với từng cá nhân.
“Thị trường tôn giáo” hay “siêu thị tôn giáo” chính là những biểu hiện của xu hướng cá thể hóa niềm tin tôn giáo hay cá nhân hóa tôn giáo. Ở đó các tôn giáo hiện nay không những hướng đến niềm tin tôn giáo chung, mà còn hướng đến những nhu cầu, nguyện vọng của các nhóm nhỏ, các cá nhân, để mỗi cá nhân có riêng cho mình “cái ô linh thiêng”.
Ở Trung Quốc, học giả Trung Quốc tác giả Dương Phượng Cương đã đưa ra khái niệm “thị trường tôn giáo” rất đáng chú ý là “Thị trường ba màu sắc của tôn giáo Trung Quốc”, Sự cấu thành ba thị trường tôn giáo:
- “Thị trường đỏ” gồm các tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo “hợp pháp” (khoảng 100 triệu người).
- “Thị trường đen” là những cộng đồng tôn giáo, tổ chức hoạt động trong tư thế “hầm trú”, bí mật, bất hợp pháp,...
Những cộng đồng này khá đông đảo, ước khoảng 200 triệu người.
-“Thị trường xám” là thị trường tôn giáo có tính cách “mập mờ”, nửa hợp pháp, nửa bất hợp pháp, đặc biệt là những cộng đồng tín ngưỡng dân gian và một số giáo phái thuộc nhiều tôn giáo lớn vốn được công nhận. Cộng đồng này cũng rất đông đảo, có thể tới hàng trăm triệu người[2].
Dương Phượng Cương nhấn mạnh, nhà nước trong khi có xu hướng muốn hạn chế thị trường đỏ, tất yếu phải khống chế, ngăn chặn thị trường đen và như vậy tất yếu sẽ gia tăng thị trường xám, mà trường hợp Pháp luân công năm 1999 - 2000 là tiêu biểu. Mặt khác tác giả cũng cho rằng, trong thực tiễn, khi “thị trường tôn giáo bị phân mảnh”, điểm then chốt của chính sách tôn giáo ở TrungQuốc là phải điều tiết được thị trường xám, cần thiết phải chuyển dần nó sang thị trường đỏ,...
Rõ ràng, điều này có liên quan đến chính sách cụ thể của quá trình “thiết chế hóa tôn giáo” ởTrung Quốc những thập kỷ gần đây. Nhận xét về điều này, D.A Palmer viết “Các đoàn thể tồn giáo yêu nước được lập ra dưới sự bảo trợ của Đảng Cộng sản Trung Quốc trong những năm 1950 đã từng, đối với năm tôn giáo liên quan, là những hình thái thiết chế hoàn toàn chưa từng có. Chưa bao giờ trong lịch sử những người theo Phật giáo, Đạo giáo hay Hồi giáo ở Trung Quốc lại cùng hội tụ trong một tổ chức quốc gia duy nhất (đã từng có nhiều ý đồ làm việc này trong thời kỳ cộng hòa (1911- 1949) song phần lớn đều đã thất bại). Vô vàn giáo phái và nhóm tán đồ chống đối đã bị buộc phải hợp nhất lại và tách mình ra khỏi các nhà thờ và hội truyền giáo ngoại quốc. Tổ chức Công giáo tuân theo các mệnh lệnh từ Trung Nam Hải chứ không phải từ Vatican”[3].
Tác giả cũng phân tích thêm rằng, quá trình thiết chế hóa Phật giáo, Công giáo, Đạo giáo, Hồi giáo và đạo Tin lành ở Trung Quốc đã tạo ra một “cấu trúc hành chính” tương đối đồng nhất giữa truyền thống tổ chức các đơn vị sản xuất xà hội chủ nghĩa (tổ đội - danwei) với các hình thức truyền thống của tổ chức tăng lữ. Đây là những nhận xét đáng chú ý nhưng không thuộc phạm vi phần viết này.
Ý kiến của Dương Phượng Cương về “thị trường tốn giáo ba màu sắc” đã được Benoit Vermander bình luận và phân tích thêm trong bài viết "Sự thức tỉnh tôn giáo và sự thoát ra khỏi tôn giáo ở Trung Quốc hiện nay”[4]. Tác giả bài viết không chỉ phân tích sự “thức tỉnh tôn giáo” ở TrungQuốc, xem đó như một đặc điểm có tính khác biệt so với tình hình các xã hội Âu - Mỹ, nơi mà “sự thoát ra khỏi tôn giáo” được coi như chuẩn mực của tính hiện đại (Marcel Gauchet), mà còn đưa ra nhận xét rằng, chính sự đổi mới của Chính phủ Trung Quốc trong chính sách tôn giáo, nhất là cách thức công nhận các tổ chức tôn giáo và bảo trợ nó đã trở thành một công cụ quan trọng trong việc“thiết chế lại” các tổ chức tôn giáo ở Trung Quốc1. Nhận định trên của B.Vermander đã nhận được những ý kiến chia sẻ.
B. Vermander còn đặc biệt nhấn mạnh hiện tượng phát triển mạnh mẽ của đạo Tin lành ở Trung Quốc mà ông gọi là “một tôn giáo đang trỗi dậy” (une religion chinoise en emergence), đồng thời coiđây là hiện tượng đáng chú ý nhất trong sự thay đổi của thị trường tôn giáo của Trung Quốc hiện nay. Tác giả viết “Những khẳng định về con số tín đồ đạo Tin lành ở Trung Quốc dao động từ 20 đến 130 triệu người. Các quan chức Trung Quốc đưa ra những con số cũng không thống nhất với nhau. Lĩnhvực tôn giáo này bao gồm một tập hợp phong phú các nhóm phái và các loại hình quy thuộc (modes dappartenance), trong một cấu hình mà xét cho cùng không thể không gợi đến cấu hình của các “tinhvân” Đạo giáo và Phật giáo. Đây là điều khiến cho đạo Tin lành thực sự trở thanh một tôn giáo TrungQuốc,.. Tương tự như nhận xét trên, David A. Palmer: “Les danwei religieuses. L’institutionalisation de la religion en Chine populaire”, Perspectives, № 4,2009, Paris, p. 19 - 33, phân tích sâu sắc hơn sự “hợp pháp hóa” các tổ chức tôn giáo ở Trung Quốc theo chính sách của chính phủ đã trở thành một công cụ pháp lý quan trọng, làm thay đổi cấu hình đời sống tôn giáo ở Trung Quốc và các hệ luận của nó, ước đoán ít nhiều đáng tín cậy về nó lại nằm ngoài tầm với của các nhà điều tra và việc tập hợp các số liệu cũng vậy”[5].
Về mặt địa - tôn giáo cũng như địa - chính trị - tôn giáo, Việt Nam và Trung Quốc là các quốc gia thuộc khu vực “thuần nhất về văn hóa nhưng đa nguyên về tôn giáo”, đồng thời là những nước có xu hướng “thế tục” hơn nhiều so với các nước Đông Nam Á “rất tôn giáo” khác. Trong sự tương thích đều có hiện tượng “thức tỉnh tôn giáo” và sự biến đổi của “thị trường tôn giáo”, nhưng sự tái cấu hình tôn giáo ở hai nước có sự khác biệt lớn.
Nhìn chung, lý thuyết thị trường tôn giáo đã đưa ra một cách tiêp cận và phương pháp nghiên cứu mới, có những điểm hợp lý để giải thích cho sự phục hồi và phát triển của tôn giáo trong thế giới hiện đại được nhiều người, nhất là giới nghiên cứu tôn giáo Mỹ ủng hộ. Tuy nhiên, lý thuyết này cũng vấp phải sự phê phán gay gắt, bởi nó bộ lộ nhiều hạn chế. Ví như, lý thuyết này sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc giải thích sự phát triển của tôn giáo và sức mạnh liên tục của giáo hội ở nhiều nước Nam Âu bất chấp vai trò độc quyền cùa Giáo hội Công giáo hay sự phát triển mạnh mẽ của Islam giáo tại nhiều quốc gia Trung Đông, nơi độc quyền của Islam giáo (không có đa dạng hay tự do cạnh tranh tôn giáo). Mặt khác, lý thuyết này thiếu cơ sở thực tiễn bởi họ không căn cứ vào nhu cầu tôn giáo của quần chúng, trong khi lại quá nhấn mạnh đến vai trò của giáo hội, giáo sĩ - người cung cấp sản phẩm. Hơn nữa, không thể đơn giản xem tôn giáo chỉ vận hành theo các quy luật kinh tế: cung - cầu một cách cứng nhắc, vô hồn dựa trên quy luật giá trị; hay coi niềm tin tôn giáo chỉ là sự lựa duy lý nhằm mục đích có lợi nhất đơn thuần; không thể quy các hành vi của đức tin chỉ về các hành vi trao đổi vụ lợi kiểu chủ nghĩa trọng thương (vậy còn các mối quan hệ biếu tặng, cho hiến thì sao?). Nó không giải thích được tại sao các thánh thần “tối thượng cao minh” rất xa lạ với cách trao đổi như vậy lại được tôn kính hơn là các thần thánh của hành động trực tiếp. Không thể chỉ khảo sát, nghiên cứu chỉ với các nhóm tôn giáo có địa bàn ranh giới và bản sắc (Tin Lành ở Mỹ) làm hình mẫu mang tính phổ quát cho toàn bộ đời sống tôn giáo trên thế giới được...
Ở Việt Nam Theo chúng tôi, nếu “áp dụng lý thuyết” của Dương Phượng Cương thì thị trường tôn giáo ở Việt Nam cũng có điểm tương đồng với Trung Quốc (như vai trò chủ thể của nhà nước trong việc điều tiết, tái cấu trúc thị trường tôn giáo) nhưng ở Việt Nam, thực tế cùng lắm cũng chỉ có hai thị trường tôn giáo là thị trường đỏ và thị trường xám (ít nhất từ trước năm 2005). Lý do, vì Nhà nước Việt Nam không can thiệp quá sâu vào nội bộ các tôn giáo, không tạo ra sự đối lập của “hai giáo hội” đối với mỗi một tôn giáo, dù rằng một thời gian dài Nhà nước Việt Nam chỉ công nhận sáu tôn giáo chính.
Đời sống tôn giáo ở Việt Nam những năm gần đây cũng vậy. Khi người dân đã xuất hiện khả năng tự lựa chọn các hình thức tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo đến một mức độ nào đó thì thị trường tôn giáo sẽ xuất hiện.
Tóm lại, trước những biến đổi nhanh và phức tạp của đời sống tôn giáo trong bối cảnh toàn cầu hóa, các mô hình lý thuyết cũ như lý thuyết thực thể tôn giáo, lý thuyết thế tục hóa đã có sự điều chinh lại cách thức tiếp cận tôn giáo cho phù hợp với xã hội hiện đại, cũng xuất tiện mô hình lý thuyết mới như lý thuyết đa dạng tôn giáo, thị trường tôn giáo nhằm lý giải sự tồn tại của tôn giáo trong thế giới đương đại. Ngoài ra, tùy thuộc vào đối tượng nghiên cứu mà có cách tiêp cận, lý thuyết nghiên cứu khác nhau. Như xã hội học tôn giáo có lý thuyết cấu trúc - chức năng, lý thuyết xung đột (mâu thuẫn), lý thuyết phân tích văn hóa và vùng văn hóa, lý thuyết tương tác biểu trưng; hay kinh tề tôn giáo có lý thuyết vốn xã hội, lý thuyết trao đổi xã hội,... Mỗi mô hình lý thuyết đều có mặt mạnh và hạn chế cần có sự vận dụng linh hoạt nhằm đạt mục đích đặt ra.
Nhận xét
Đăng nhận xét